KỶ NIỆM 120 NĂM NGÀY SINH ĐỒNG CHÍ HÀ HUY TẬP (24/4/1906 – 24/4/2026)

Đồng chí Hà Huy Tập sinh ngày 24/4/1906 tại làng Kim Nặc, tổng Thổ Ngọa (nay là xã Cẩm Hưng, tỉnh Hà Tĩnh), trong một gia đình nhà nho yêu nước. Ngay từ nhỏ, đồng chí đã được nuôi dưỡng trong truyền thống hiếu học, yêu nước và sớm chứng kiến cảnh nước mất, dân khổ dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Chính hoàn cảnh đó đã hun đúc trong đồng chí ý chí cách mạng, quyết tâm dấn thân trên con đường đấu tranh giải phóng dân tộc.

Thời niên thiếu, Hà Huy Tập học chữ Hán tại nhà, sau đó theo học tại các trường Pháp – Việt và Trường Quốc học Huế. Dù học giỏi, đỗ đạt cao, nhưng do hoàn cảnh khó khăn, đồng chí không thể tiếp tục con đường học vấn mà phải đi dạy học. Trong quá trình giảng dạy tại Nha Trang, đồng chí đã tích cực đọc sách báo, tìm hiểu thực trạng xã hội và nhận thức rõ nỗi thống khổ của Nhân dân dưới chế độ thực dân. Chính vì vậy, đồng chí sớm tham gia các hoạt động yêu nước, chống lại ách thống trị của thực dân Pháp và bị trục xuất khỏi Nha Trang.

Năm 1926, đồng chí trở về Nghệ An, tham gia Hội Phục Việt, tích cực tuyên truyền, vận động công nhân, nông dân, thanh niên tham gia phong trào cách mạng. Sau đó, đồng chí vào Gia Định, rồi Bà Rịa hoạt động, vừa lao động, vừa xây dựng cơ sở cách mạng, tổ chức chi bộ, mở lớp xóa mù chữ cho công nhân. Cuối năm 1928, đồng chí được cử sang Quảng Châu (Trung Quốc) để tham gia quá trình hợp nhất các tổ chức cách mạng. Từ năm 1929 đến 1932, đồng chí học tại Trường Đại học Phương Đông ở Mátxcơva (Liên Xô), được trang bị hệ thống lý luận cách mạng khoa học và phương pháp hoạt động cách mạng.

Sau khi hoàn thành học tập, đồng chí tiếp tục hoạt động tại Trung Quốc, tham gia Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương, trực tiếp tham gia công tác chuẩn bị và tổ chức Đại hội lần thứ I của Đảng năm 1935 tại Ma Cao. Đây là dấu mốc quan trọng, góp phần củng cố và phát triển tổ chức Đảng trong giai đoạn khó khăn.

Năm 1936, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Hà Huy Tập được phân công về nước, trực tiếp tham gia khôi phục hệ thống tổ chức Đảng và giữ cương vị Tổng Bí thư của Đảng từ tháng 7/1936 đến tháng 3/1938. Trong thời gian này, đồng chí đã có những đóng góp to lớn trong việc lãnh đạo phong trào cách mạng, đề ra nhiều chủ trương đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tiễn, đặc biệt là việc chuyển hướng đấu tranh, xây dựng Mặt trận dân chủ, mở rộng lực lượng cách mạng.

Dưới sự lãnh đạo của đồng chí, nhiều hội nghị quan trọng của Đảng đã được tổ chức, đưa ra các quyết sách mang tính chiến lược, góp phần khôi phục hệ thống tổ chức Đảng từ Trung ương đến cơ sở, thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ. Đồng chí không chỉ là một nhà lãnh đạo kiên cường mà còn là người có tư duy chiến lược, nhạy bén về chính trị, luôn gắn lý luận với thực tiễn cách mạng.

Không chỉ nổi bật trong vai trò lãnh đạo, đồng chí Hà Huy Tập còn là một nhà lý luận sắc sảo, một cây bút chiến đấu tiêu biểu trên mặt trận tư tưởng của Đảng. Trong quá trình hoạt động, đồng chí đã viết nhiều tác phẩm, bài báo có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc như Lịch sử của Tân Việt Cách mệnh Đảng, Hoạt động của Đảng Cộng sản Đông Dương cùng nhiều bài viết trên các tạp chí lý luận. Những công trình này không chỉ góp phần tổng kết thực tiễn cách mạng mà còn giúp định hướng đường lối, củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin.

Đồng chí cũng là người đi tiên phong trong nghiên cứu lịch sử Đảng, góp phần xây dựng hệ thống lý luận cách mạng Việt Nam trong những năm đầu đầy khó khăn. Những bài viết, công trình của đồng chí thể hiện tư duy sắc bén, lập luận chặt chẽ, tinh thần chiến đấu mạnh mẽ trên lĩnh vực tư tưởng – lý luận, có giá trị lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng.

Trong suốt quá trình hoạt động, đồng chí Hà Huy Tập luôn thể hiện phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ cộng sản: kiên trung, bất khuất, tận tụy, hết lòng vì nước, vì dân. Dù bị địch bắt, tra tấn, giam cầm, đồng chí vẫn giữ vững khí tiết cách mạng, không khuất phục trước kẻ thù. Trước lúc hy sinh, đồng chí vẫn thể hiện tinh thần lạc quan, niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi của cách mạng và tương lai của dân tộc.

Ngày 28/8/1941, tại Hóc Môn (Gia Định), đồng chí Hà Huy Tập đã anh dũng hy sinh khi mới 35 tuổi. Cuộc đời tuy ngắn ngủi nhưng sự nghiệp cách mạng của đồng chí vô cùng to lớn, để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử Đảng và dân tộc. Đồng chí là tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, về tinh thần “chí công vô tư”, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Hà Huy Tập là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta ôn lại cuộc đời, sự nghiệp và những đóng góp to lớn của đồng chí đối với cách mạng Việt Nam; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Qua đó, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước.

Học tập và noi gương đồng chí Hà Huy Tập, mỗi cán bộ, đảng viên cần không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao đạo đức cách mạng, phát huy tinh thần trách nhiệm, tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân; luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng đất nước ngày càng phát triển, phồn vinh, hạnh phúc.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *